Thời gian gần đây, ngày càng có nhiều người Việt Nam
định cư ở nước ngoài về nước thăm thân nhân và đầu tư, có nhu cầu sở hữu
nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Pháp luật hiện hành cũng đã
có nhiều quy định để đáp ứng nhu cầu chính đáng đó.
Theo quy định tại Điều 121 Luật Đất đai năm 2003, Điều
126 Luật Nhà ở năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở
và Điều 121 của Luật Đất đai ngày 18/6/2009, có hiệu lực từ ngày
1/9/2009 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở
gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam để bản thân và các thành
viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam nếu được cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên và
thuộc một trong các đối tượng sau đây:
- Người có quốc tịch Việt Nam;
- Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực
tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho
đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ
quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam;
người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối
tượng trên có quyền sở hữu (không hạn chế số lượng nhà ở tại Việt Nam)
thông qua hình thức mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, đổi nhà ở hoặc
được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án phát triển nhà ở
của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (đối với dự án tại các khu
vực được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức bán nền
theo quy định của pháp luật về đất đai) để người mua xây dựng nhà ở cho
bản thân và các thành viên trong gia đình tại Việt Nam, nếu có các giấy
tờ chứng minh dưới đây:
a) Đối với người có quốc tịch Việt Nam thì phải có hộ
chiếu Việt Nam còn giá trị; trong trường hợp mang hộ chiếu nước ngoài
thì phải có một trong các giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam theo
quy định của pháp luật về quốc tịch;
b) Đối với người gốc Việt Nam thì phải có hộ chiếu
nước ngoài kèm theo giấy tờ xác nhận là người gốc Việt Nam do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp để chứng minh có gốc Việt Nam.
- Người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp
luật về đầu tư có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;
- Người có công đóng góp với đất nước, bao gồm: người
được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có
công với cách mạng có giấy tờ chứng minh được hưởng chế độ ưu đãi do cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp; người có thành tích đóng góp trong
sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước được Chủ tịch nước tặng
thưởng Huân chương, Huy chương, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen;
người tham gia vào Ban Chấp hành các tổ chức chính trị - xã hội của
Việt Nam; của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ cấp tỉnh trở lên được các tổ
chức này xác nhận; người được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương hội,
người là nòng cốt các phong trào, tổ chức của kiều bào có quan hệ với
trong nước và người có những đóng góp, giúp đỡ tích cực cho các cơ quan
đại diện hoặc các hoạt động đối ngoại của Việt Nam ở nước ngoài được Ủy
ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan đại diện ngoại
giao của Việt Nam ở nước ngoài xác nhận;
- Nhà văn hóa, nhà khoa học, bao gồm: người được phong
học hàm, học vị về khoa học, giáo dục, văn hóa - nghệ thuật, thể dục -
thể thao của Việt Nam hoặc của nước ngoài, các chuyên gia trong lĩnh vực
kinh tế - xã hội đang làm việc tại Việt Nam. Các trường hợp này phải
được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng các
trường đại học, cao đẳng, học viện, viện nghiên cứu của Việt Nam mời về
làm chuyên gia, cộng tác viên, giảng dạy và có xác nhận của cơ quan, tổ
chức mời về việc đối tượng này đang làm việc tại cơ quan, tổ chức đó;
- Người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt có giấy xác
nhận về chuyên môn, kỹ năng của hiệp hội, hội nghề nghiệp Việt Nam hoặc
của cơ quan cấp Bộ phụ trách lĩnh vực chuyên môn, kỹ năng kèm theo giấy
phép hành nghề chuyên môn tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam cấp (đối với trường hợp pháp luật yêu cầu phải có giấy phép hành
nghề) hoặc Giấy phép lao động do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp
(đối với trường hợp pháp luật không yêu cầu phải có giấy phép hành
nghề);
- Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh
sống ở trong nước có giấy tờ chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp kèm theo hộ khẩu thường trú và
giấy chứng minh nhân dân của một bên vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam ở
trong nước.
Đối với trường hợp có các giấy tờ do nước ngoài cấp
thì phải dịch ra Tiếng Việt và có chứng nhận của cơ quan công chứng của
Việt Nam.
Ngoài các giấy tờ trên, để thỏa mãn điều kiện quy định
tại Điều 126 Luật Nhà ở thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài cần có
các giấy tờ chứng minh điều kiện cư trú tại Việt Nam theo quy định tại
Điều 67 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP như sau:
- Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ
chiếu Việt Nam thì phải có Sổ tạm trú hoặc giấy tờ xác nhận về việc đăng
ký tạm trú tại địa phương do công an phường, xã, thị trấn nơi người đó
cư trú cấp;
- Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ
chiếu nước ngoài thì phải có Thẻ tạm trú hoặc có dấu chứng nhận tạm trú
đóng vào hộ chiếu với thời hạn được tạm trú tại Việt Nam từ ba tháng trở
lên do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Việt Nam cấp.
Trường hợp của chị hiện nay đang là công dân Mỹ và
muốn được nhận chuyển nhượng nhà và đất của mẹ chị đang sinh sống tại
Việt Nam thì phải thuộc một trong các đối tượng quy định tại Điều 126
Luật Nhà ở và có các giấy tờ chứng minh như đã nêu ở trên.
Nguồn vnexpress.net
Cập nhật lần cuối + 20/06/2011 3:41:00 CH
Lượt xem:180